Chủ nhật, 31/05/2020

"Cán bộ, công chức, viên chức ngành Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam gương mẫu thực hiện văn hóa công sở"


 
Liên kết website
 
Công báo chính phủ


 
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập: 12
  • Hôm nay: 840
  • Tháng hiện tại: 105833
  • Tổng lượt truy cập: 4307528
 
vksndtc
bao ve phap luat
hoc tap ho chi minh
Thư điện tử VKS
dangcongsan.vn
Tạp chí kiểm sát
doisongphapluat.com.vn

Thông báo rút kinh nghiệm vụ án dân sự bị cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm

Đăng lúc: Thứ tư - 26/02/2020 16:15 - Người đăng bài viết: admin
Thông qua công tác kiểm sát xét xử phúc thẩm vụ án dân sự, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam thông báo vụ án dân sự bị cấp phúc sửa toàn bộ bản án sơ thẩm để Viện KSND các huyện, thị xã, thành phố nghiên cứu rút kinh nghiệm. Cụ thể như sau:
  Vụ án “Kiện chia di sản thừa kế”, giữa:
  Các đồng nguyên đơn:
  - Bà Nguyễn Thị Chủ (SN 1946) và bà Nguyễn Thị Chàng (SN 1955), đều trú tại xóm 8, thôn Nhất, xã Bạch Thượng, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
       - Bà Nguyễn Thị Định (SN 1962), trú tại đội 5, thôn Thần Quy, xã Minh Tân, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.
 
  Bị đơn: ông Nguyễn Văn Tường (SN 1960), xóm 5, thôn Nhất, xã Bạch Thượng, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
 
  1. Tóm tắt nội dung vụ án và quá trình giải quyết:
 
  Vợ chồng cụ Nguyễn Văn Nhân (chết năm 1996) và cụ Nguyễn Thị Vui (chết năm 2013) sinh được 07 người con gồm: các ông, bà Nguyễn Văn Hiền, Nguyễn Thị Chủ, Nguyễn Thị Vi, Nguyễn Thị Chàng, Nguyễn Văn Tiệp, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Văn Tường.
  Ông Nguyễn Văn Hiền (chết năm 2008) có vợ là bà Nguyễn Thị Nhí (chết năm 2012) và 04 người con là Nguyễn Đức Ngải, Nguyễn Đức Nghị, Nguyễn Thị Duyên, Nguyễn Trường Giang.
  Quá trình chung sống cụ Nhân, cụ Vui ở trên thửa đất số 276, tờ bản đồ số 6 năm 1986, diện tích 720m2 (thổ cư 390m2, thổ canh  330m2) tại xã Bạch Thượng, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (nay là thửa số 180, 181 tờ bản đồ 09). Tài sản trên đất có 09 gian nhà cấp 4 lợp ngói, 03 gian bếp, 02 gian chuồng lợn. Khi còn sống hai cụ chia cho ông Hiền (con trai cả) 03 gian nhà và một phần diện tích đất. Do ông Hiền có chỗ ở khác nên năm 1988 đã cho vợ chồng anh Nguyễn Đức Ngải (con trai cả của ông Hiền) sinh sống, quản lý, sử dụng diện tích nhà đất này; vợ chồng anh Ngải đã xây thêm 4 gian nhà mái bằng vào năm 1996. Phần đất và 6 gian nhà còn lại hai cụ ở cùng với vợ chồng ông Nguyễn Văn Tường (con trai út) cho đến khi chết.  
  Riêng ông Nguyễn Văn Tiệp được 02 cụ mua cho thửa đất của ông cả Nhị (người cùng xóm) ra ở riêng từ khoảng năm 1984 – 1985.
   Năm 2003, thực hiện Kế hoạch số 566 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam, ngày 27/6/2005 Ủy ban nhân dân huyện Duy Tiên có Quyết định số 293/2005/QĐ-UBND về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân, trong đó có hộ ông Nguyễn Văn Tường được cấp giấy chứng nhận số AE 071849, thửa số 181, tờ bản đồ PL09, diện tích 544m2 (500m2 đất ở sử dụng riêng, 44m2 đất LNK của UB) và hộ anh Nguyễn Đức Ngải được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 071848, thửa số 180, tờ bản đồ PL09, diện tích 246m2 (220m2 đất ở sử dụng riêng và 26m2 đất PNK của UB).
   Năm 2014, bà Chủ, bà Chàng, bà Định có đơn khiếu nại việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Tường và anh Ngải. Ngày 28/8/2015, Ủy ban nhân dân huyện Duy Tiên ra Quyết định số 155 và 156 thu hồi 2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông Tường và hộ anh Ngải vì cho rằng không đủ điều kiện theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 (không có một trong các loại giấy tờ hợp pháp như thừa kế, tặng cho…).
   Ngày 19/6/2017, bà Nguyễn Thị Chủ, bà Nguyễn Thị Chàng và bà Nguyễn Thị Định có đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với di sản của cụ Nhân, cụ Vui là 720m2 đất thuộc thửa số 276, tờ bản đồ PL6, bản đồ năm 1986 và diện tích đất nông nghiệp, cùng tài sản gồm: 06 gian nhà cấp 4, tủ chè, sập gụ, đồng hồ và đồ dùng sinh hoạt các cụ để lại hiện nay ông Tường đang quản lý. Trong thời gian chuẩn bị xét xử các nguyên đơn đề nghị không xem xét giải quyết đối với tài sản trên đất, đồ dùng sinh hoạt và diện tích đất nông nghiệp.
 
   Bị đơn ông Tường và bà Trương Thị Hoán (vợ ông Tường là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) có quan điểm: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, vì cho rằng ông được hưởng tài sản của bố mẹ để lại theo di chúc do cụ Nhân viết và đưa ông cất giữ. Ông Tường đã xuất trình một giấy di chúc, nội dung thể hiện: cụ Nhân đã chia cho ông Hiền (con trai cả) ba gian nhà cấp 4 và đất đã được xây tường ngăn, ông Hiền không ở cho con trai là Ngải nhận phần để ở. Anh thứ hai đã được mua riêng cho một chỗ khác (nhà của ông cả Nhị bán đi khai hoang). Còn bao nhiêu đất cát, nhà cửa giao lại cho anh Tường được sử dụng cùng đồ đạc trong nhà, anh Tường phải nuôi hai ông bà cho đến lúc chết và đứng ra lo ma chay cho các cụ, không được bổ chia cho anh em. Di chúc có chữ ký mang tên cụ Nguyễn Văn Nhân, phần đầu đề ngày 20/12 năm Ất Hợi (1995), phần cuối đề ngày 06/2 năm Bính Tý (1996) và không có người làm chứng, không có công chứng, chứng thực.
  Quá trình sử dụng nhà đất, vợ chồng ông Tường đã nâng cấp 03 lần và vượt lập đất ao. Ông có quan điểm nhà đất của ông nên không đề nghị giải quyết công sức tôn tạo, vượt lập.
  Đối với di chúc ông Tường xuất trình, ông Tiệp cho rằng nội dung di chúc đúng như thực tế nhưng không khẳng định đó là chữ viết của cụ Nhân; các đương sự khác trong vụ án khai không biết gì về việc cụ Nhân viết di chúc, cụ Vui không biết chữ. Ông Tường cho rằng cụ Nhân đưa di chúc cho ông cất giữ đề phòng về sau các anh chị em tranh chấp, còn thực tế ai cũng biết các cụ đã phân chia tài sản ai cũng có phần, nên ông cất đi không nói cho ai biết. Ông đề nghị mọi người ghi ngờ thì đi giám định; bà Chủ, bà Chàng, bà Định đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng không có ai cung cấp được mẫu chữ của cụ Nhân nên đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
 
   Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: bà Nguyễn Thị Vi có quan điểm trường hợp Tòa án chia thừa kế phần bà được hưởng thì cho ông Tường. Ông Nguyễn Văn Tiệp có quan điểm ông đã được các cụ mua cho đất, phần di sản ông được hưởng ông không nhận mà đề nghị chia cho các anh em. Anh Nguyễn Đức Ngải có quan điểm đề nghị được hưởng phần của ông Hiền và giữ nguyên hiện trạng đất đang sử dụng, anh có trách nhiệm trả chênh lệch cho các kỷ phần khác. Chị Nguyễn Thị Duyên, anh Nguyễn Đức Nghị, anh Nguyễn Đức Giang cùng thống nhất các cụ đã cho bố các anh chị là ông Hiền nhà và đất, ông Hiền đã cho anh Ngải sử dụng nên các anh, chị không có ý kiến gì.
 
  Bản án số 04/2018/DS-ST ngày 05/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên đã quyết định:
 1. Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện chia thừa kế tài sản của đồng nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Chủ, Nguyễn Thị Chàng và Nguyễn Thị Định đối với bị đơn là ông Nguyễn Văn Tường.
2. Xác định: Di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn Nhân và cụ Nguyễn Thị Vui bao gồm:
- Quyền sử dụng thửa đất số 181, diện tích 500m2, thuộc phụ lục số 09, Bản đồ địa chính xã Bạch Thượng năm 2003, do hộ ông Tường đang quản lý sử dụng, trị giá là 1.000.000.000đ.
- Quyền sử dụng thửa đất số 180, diện tích 220m2, thuộc phụ lục số 09, Bản đồ địa chính xã Bạch Thượng năm 2003, do hộ anh Nguyễn Đức Ngải đang quản lý sử dụng, trị giá 440.000.000đ.
Tổng trị giá hai thửa là 1.440.000.000đ : 7 (kỷ phần) = 205.714.285đ.
Theo đó, bà Nguyễn Thị Chủ, bà Nguyễn Thị Chàng, bà Nguyễn Thị Định, bà Nguyễn Thị Vi, ông Nguyễn Văn Tiệp, ông Nguyễn Văn Tường và 01 kỷ phần của ông Nguyễn Đức Hiền (đã chết), có các con là anh Nguyễn Đức Ngải, anh Nguyễn Đức Nghị, chị Nguyễn Thị Duyên và anh Nguyễn Trường Giang cùng thế vị, mỗi kỷ phần thừa kế hưởng phần di sản trị giá là 205.714.285đ.
3. Giao cho bà Nguyễn Thị Chủ, bà Nguyễn Thị Chàng và bà Nguyễn Thị Định cùng quản lý sử dụng diện tích 180m2 phía Tây Bắc thửa đất số 181, thuộc phụ lục số 09, Bản đồ địa chính xã Bạch thượng năm 2003, trị giá 360.000.000đ … và phần tường rào, nhà tạm, cây cối trên diện tích đất được giao, trị giá 8.054.853đ.
4. Giao ông Nguyễn Văn Tường sử dụng diện tích 320m2 phía Tây Nam thửa đất số 181… trị giá 640.000.000đ, trên đất có nhà, bếp, công trình phụ, cây cối hiện do hộ ông Tường đang quản lý sử dụng …
5. Giao anh Nguyễn Đức Ngải sử dụng toàn bộ diện tích 220m2 thửa đất số 180… trị giá 440.000.000đ, trên đất có nhà và các công trình, cây cối hiện do hộ anh Ngải đang quản lý sử dụng ...
6. Về thanh toán chênh lệch tài sản giữa các đương sự:
- Các nguyên đơn là bà Chủ, bà Chàng và bà Định được chia di sản là trị giá quyền sử dụng đất 180m2 = 360.000.000đ. Trong khi đó, cả 03 bà được nhận di sản trị giá 617.142.855đ và có nghĩa vụ thanh toán cho ông Tường phần tường rào, nhà tạm và cây cối trên diện tích đất được giao, trị giá 8.054.853đ. Do vậy bà Chủ, bà Chàng và bà Định còn được nhận số tiền thanh toán chênh lệch tài sản của ông Tường và anh Ngải, cụ thể như sau:
- Buộc ông Nguyễn Văn Tường thanh toán tiền chênh lệch tài sản cho:
+ Bà Nguyễn Thị Vi: 01 kỷ phần thừa kế, trị giá là 205.714.285đ.
+ Ông Nguyễn Văn Tiệp: 01 kỷ phần thừa kế, trị giá là 205.714.285đ.
+ Các nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Chủ, bà Nguyễn Thị Chàng và bà Nguyễn Thị Định số tiền (trị giá đất) 22.857.140đ – 8.054.853đ (trị giá tài sản) = 14.802.287đ.
- Buộc anh Nguyễn Đức Ngải thanh toán tiền chênh lệch tài sản cho các nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Chủ, bà Nguyễn Thị Chàng và bà Nguyễn Thị Định số tiền 234.285.715đ.
 
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí thẩm định, định giá và quyền kháng cáo của đương sự.
 
Sau khi xét xử sơ thẩm ông Nguyễn Văn Tường có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, vì cho rằng toàn bộ diện tích 544m2 đất hiện nay ông đang sử dụng là của gia đình ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2006, đã nộp thuế hàng năm.
Ngày 05/11/2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam ban hành Quyết định kháng nghị số 1811/QĐKNPT-VKS-DS đối với bản án sơ thẩm nêu trên của Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, công nhận phần đất cụ Nhân, cụ Vui cho ông Hiền và ông Hiền cho lại anh Ngải thuộc quyền sử dụng của anh Ngải; xem xét giải quyết chia thừa kế theo quy định của pháp luật đối với quyền sử dụng diện tích 500m2 đất còn lại ông Tường đang quản lý.
 
 Ngày 18/11/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam đã mở phiên tòa phúc thẩm vụ án. Hội đồng xét xử đã đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Tường (người kháng cáo vắng mặt lần thứ hai không có lý do); chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm.
 
2. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm
 
2.1. Về xác định di sản thừa kế: Các đương sự đều thừa nhận, khi còn sống cụ Nhân, cụ Vui đã chia cho ông Hiền 03 gian nhà và diện tích đất như khuôn viên anh Ngải đang sử dụng (năm 2003 khi đo đạc để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng có diện tích là 246m2 gồm 220m2 đất ở, 26m2 đất PNK của UB). Ông Hiền đã cho anh Ngải quản lý, sử dụng diện tích đất này liên tục từ năm 1988 đến nay, đã có khuôn viên riêng. Năm 1996 vợ chồng anh Ngải xây thêm 4 gian nhà mái bằng, khi đó cụ Nhân, cụ Vui còn sống và các con của hai cụ đều biết, không ai có ý kiến gì. Năm 2005, anh Ngải đã được Ủy ban nhân dân huyện Duy Tiên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy có đủ căn cứ xác định cụ Nhân và cụ Vui đã tặng cho ông Hiền diện tích 220m2 đất ở, sau đó ông Hiền cho lại anh Ngải quản lý, sử dụng và ở ổn định trên đất từ năm 1988. Nay các nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế đối với diện tích đất anh Ngải đang sử dụng được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là không đúng với ý chí định đoạt tài sản hợp pháp của cụ Nhân, cụ Vui.
Theo Án lệ số 03/2016/AL được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06/4/2016 của Chánh án TAND Tối cao hướng dẫn: “Trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một diện tích đất và vợ chồng người con đã xây dựng nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi vợ chồng người con xây dựng nhà thì cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì; vợ chồng người con đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định và đã tiến hành việc kê khai đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải xác định vợ chồng người con đã được tặng cho quyền sử dụng đất”. Áp dụng tinh thần Án lệ nêu trên có cơ sở công nhận việc cụ Nhân, cụ Vui tặng cho ông Hiền, sau đó ông Hiền tặng cho lại anh Ngải 03 gian nhà và diện tích 220m2 đất ở. Năm 2005, Ủy ban nhân dân huyện Duy Tiên đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Ngải. Do vậy đủ điều kiện công nhận diện tích 220m2 đất thuộc thửa số 180 (phụ lục số 09, bản đồ địa chính xã Bạch Thượng năm 2003) thuộc quyền sử dụng của anh Ngải. Di sản của cụ Nhân, cụ Vui để lại chỉ còn 500m2 đất ông Tường đang quản lý.
 
2.2.Về yêu cầu từ chối nhận di sản của ông Nguyễn Văn Tiệp: Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 1995 và Điều 642 Bộ luật Dân sự năm 2005 để không chấp nhận yêu cầu từ chối nhận di sản của ông Tiệp là không đúng, vì: Ngày 19/6/2017, các bà Chủ, Chàng, Định có đơn khởi kiện chia thừa kế và được Tòa án thụ lý ngày 29/6/2017, vì vậy khi phân chia di sản thừa kế phải áp dụng Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 để giải quyết. Trong vụ án này, ông Tiệp từ chối nhận di sản với lý do đã được các cụ cho nhà đất rồi, nếu Tòa án chia thừa kế theo yêu cầu của nguyên đơn thì phần ông được hưởng ông đề nghị chia cho các anh chị em khác. Đây là sự tự nguyện của ông Tiệp và sự từ chối này không nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác, hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015 nên cần xem xét chấp nhận.
 
2.3.Về xác định hàng thừa kế:
Tòa án sơ thẩm xác định các anh chị Ngải, Nghị, Duyên, Giang là người hưởng thừa kế thế vị đối với toàn bộ kỷ phần thừa kế ông Hiền được hưởng là không chính xác vì ông Hiền chết sau cụ Nhân và chết trước cụ Vui nên chỉ phần di sản ông Hiền được hưởng của cụ Vui thì những người con của ông Hiền được thừa kế thế vị, còn phần di sản ông Hiền được hưởng của cụ Nhân được để lại cho vợ con ông Hiền và cụ Vui.
Ngoài ra, bản án nhận định bà Nguyễn Thị Vi cho ông Tường được hưởng kỷ phần của bà là tự nguyện, phù hợp pháp luật, nhưng tại phần quyết định của bản án Tòa án lại buộc ông Tường phải thanh toán tiền chênh lệch tài sản 01 kỷ phần thừa kế cho bà Vi là mâu thuẫn với phần nhận định và không đúng sự tự nguyện của đương sự.
 
Vụ án trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện cử Kiểm sát viên nghiên cứu và tham gia xét xử nhưng Kiểm sát viên không phát hiện được những vi phạm nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm để thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm ngang cấp. Viện KSND tỉnh Hà Nam thông báo để các Viện kiểm sát nhân dân các huyện, thị xã, thành phố trực thuộc nghiên cứu rút kinh nghiệm chung./.

Tác giả bài viết: Phòng 9 – VKSND tỉnh Hà Nam

Những tin mới hơn

Ý kiến bạn đọc

 
123
 
 
 
Thành phố Phủ Lý
Thành phố Phủ Lý
Phối cảnh thành phố Phủ Lý
Cụm công nghiệp thành phố
Phủ Lý về đêm

Xem toàn bộ album: Tỉnh Hà Nam

 
Thành Viên Đăng Nhập
 
giai bua liem vang
Lịch làm việc của Lãnh đạo VKSND tỉnh Hà Nam
phapdien
hoc tap lam theo Ho Chi Minh
 
Thống kê & Công nghệ thông tin
quan ly van ban
Thăm dò ý kiến

Bạn biết website Viện Kiểm Sát Hà Nam từ nguồn tin nào?

Từ Viện Kiểm Sát nhân dân Tỉnh Hà Nam

Từ báo Hà Nam

Từ trang tìm kiếm nổi tiếng Google.com

Tất cả các ý kiến trên

 
Thành viên
 
vksndtc
bao ve phap luat
hoc tap ho chi minh
Thư điện tử VKS
dangcongsan.vn
Tạp chí kiểm sát
doisongphapluat.com.vn