VKSND TỈNH HÀ NAM THAY ĐỔI NỘI DUNG KHÁNG NGHỊ ĐỂ BẢO VỆ TỐT HƠN QUYỀN LỢI CHO NGƯỜI LIÊN QUAN

Thứ sáu - 15/12/2023 01:20 235 0
Viện KSND tỉnh Hà Nam đã quyết định “Thay đổi nội dung kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện” để bảo vệ tốt nhất quyền lợi cho người liên quan trong vụ án là người vợ hoặc chồng khi bên còn lại sử dụng tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân vào việc phạm tội và người vợ hoặc chồng không có lỗi.
Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 20/02/2023, Lê Văn L có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy loại Heroine, có khối lượng 0,575 gam để sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật. Quá trình điều tra xác định, bị cáo đã sử dụng xe môtô Wave có BKS 90D1-083.10, đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị T (vợ bị cáo) để đi mua ma tuý.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2023/HS-ST ngày 28/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện A đã căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 BLHS, tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo 06 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/02/2023.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 BLTTHS, tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô Wave biển kiểm soát 90D1-083.10.

Ngày 11/9/2023, Viện KSND huyện A đã ban hành Kháng nghị phúc thẩm đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm đối với vụ án theo hướng: Trả lại chị Nguyễn Thị T ½ giá trị chiếc xe 90D1 - 083.10 và tịch thu sung quỹ Nhà nước ½ giá trị chiếc xe 90D1-083.10.

Sau khi có Quyết định phân công THQCT, KSXX phúc thẩm đối với vụ án trên, Lãnh đạo Phòng 7 - Viện KSND tỉnh đã chỉ đạo Kiểm sát viên nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thấy quyết định về phần xử lý vật chứng của Bản án hình sự sơ thẩm tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước xe mô tô BKS 90D1-08.310 không đúng và nội dung kháng nghị của VKSND huyện A về việc tuyên tịch thu ½ trị giá xe mô tô trên cũng chưa hoàn toàn chính xác, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người vợ (người có quyền lợi nghĩa vụ trong vụ án). Đơn vị đã báo cáo, đề xuất Lãnh đạo Viện KSND tỉnh Hà Nam thay đổi nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát huyện A tại phiên tòa, bởi lẽ:

Trong vụ án này, mặc dù giữa chị Nguyễn Thị T và bị cáo Lê Văn L vẫn đang tồn tại quan hệ vợ chồng và chiếc xe mô tô được chị T mua trong thời kỳ hôn nhân nhưng tài liệu có trong hồ sơ và đã được thẩm vấn công khai tại phiên toà đều thể hiện chị T một mình đứng ra vay tiền của vợ chồng anh Lê Văn T, chị Hoàng Thị Kim N mua xe để đi làm tại Khu Công nghiệp khi bị cáo L không có nhà nên giấy tờ đăng ký xe mô tô đứng tên chị Nguyễn Thị T. Sau khi mua xe, chị T một mình làm và tự trả toàn bộ khoản tiền vay để mua xe. Bị cáo không có đóng góp vào việc hình thành nên tài sản chung vợ chồng là chiếc xe mô tô trên.

Bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có công ăn việc làm ổn định để tạo ra thu nhập. Kể từ khi bị cáo và chị T kết hôn từ năm 2005 đến nay, bị cáo đã 05 lần phải đi chấp hành án phạt tù và cai nghiện bắt buộc tại cơ sở giáo dục. Thời gian được ở ngoài, bị cáo cũng thường xuyên vắng mặt tại địa phương. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo cũng thừa nhận, nguồn gốc số tiền mua xe mô tô do chị T một mình lao động mà có, bị cáo không có tiền để góp cùng chị T. Khi bị cáo lấy xe đi mua ma tuý, chị T không biết.

Từ đó, có đủ căn cứ khẳng định nguồn tiền dùng để mua xe mô tô Wave BKS 90D1-083.10 là toàn bộ của chị Nguyễn Thị T, bị cáo Lê Văn L không có công sức đóng góp tiền để mua xe. Cần căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 106 BLTTHS để tuyên trả lại toàn bộ chiếc xe mô tô trên cho chị Nguyễn Thị T là phù hợp quy định pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người liên quan.

Vì các lẽ trên, được sự nhất trí của Lãnh đạo Phòng và Lãnh đạo VKSND tỉnh Hà Nam, tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, KSV đã căn cứ vào Khoản 1 Điều 342 BLTTHS và tiết 3 khoản 2 Điều 41 Quy chế Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự (ban hành theo Quyết định số 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao), quyết định thay đổi nội dung Kháng nghị số 01 ngày 11/9/2023 của VKSND huyện A theo hướng: Đề nghị HĐXX phúc thẩm sửa bản án hình sự sơ thẩm số 66/2023/HS-ST ngày 28/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện A về phần xử lý vật chứng, tuyên trả lại chị Nguyễn Thị T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 90D1-083.10.

Đề nghị thay đổi nội dung kháng nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã được Hội đồng xét xử phúc thẩm TAND tỉnh Hà Nam chấp nhận toàn bộ, qua đó không chỉ bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của người vợ (người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án) mà góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm ngang cấp, bảo vệ thành công quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên toà.

Như vậy, thông qua việc xử lý vật chứng trong vụ án trên thấy rằng, không phải cứ phương tiện phạm tội được xác định là tài sản chung vợ chồng do hình thành trong thời kỳ hôn nhân và bị một bên vợ hoặc chồng sử dụng vào việc phạm tội, bên còn lại không có lỗi là có thể bị tuyên tịch thu 1/2 hoặc tịch thu toàn bộ trị giá tài sản đó để sung ngân sách nhà nước. Việc quyết định có tịch thu hay không ngoài thực hiện theo quy định chung trong trường hợp là tài sản chung vợ chồng cần chứng minh, làm rõ ngay từ trong giai đoạn điều tra về trị giá tài sản và nguồn gốc số tiền đã sử dụng để hình thành lên tài sản chung đó, là tiền của hai vợ chồng hay do một bên tạo thành... từ đó bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người vợ hoặc chồng (bên không có lỗi)./.
 
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa

Tác giả: Nguyễn Nga - phòng 7

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây