Những nội dung mới cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Thứ hai - 05/01/2015 02:56 6.646 0
Ngày 19/6/2014, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật hôn nhân và Gia đình (Luật số 52/2014/QH13, Luật này có hiệu lực từ ngày 01/1/2015 – sau đây gọi tắt là Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014), với 10 chương, 133 điều quy định về chế độ hôn nhân và gia đình; chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử giữa các thành viên gia đình; trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình.
So với Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giảm bớt 2 chương, 08 điều (gồm: Chương IX “Giám hộ giữa các thành viên trong gia đình” vì đã được quy định trong Bộ luật dân sự và Chương XII “Xử lý vi phạm” vì đã được quy định trong Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; Điều 7 “Áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài”; Điều 10 “ Những trường hợp cấm kết hôn”; Điều 12 “Thẩm quyền đăng ký kết hôn”; Điều 13 “Giải quyết việc đăng ký kết hôn”; Điều 14 “Tổ chức đăng ký kết hôn”; Điều 89 “Căn cứ cho ly hôn”; Điều 98 “Chia nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ, chồng”; Điều 106 “Giám hộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài”).
          Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có những nội dung mới cơ bản sau đây:
 
1.     Về một số quy định chung (Chương I):
- Bổ sung nguyên tắc “Kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa và đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình”. (Điều 2, Khoản 5).
- Sửa đổi, bổ sung nguyên tắc “Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con” (Điều 2, Khoản 3).
- Sửa đổi, bổ sung nguyên tắc “Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình” (Điều 2, khoản 4).
          Việc sửa đổi này nhằm thể chế hóa những quan điểm của Đảng thể hiện trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI là xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, đồng thời kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam.
 
          - Bổ sung thêm các từ ngữ mới tại Điều 3 như sau: Tập quán hôn nhân và gia đình (khoản 4); Chung sống như vợ chống (khoản 7); Cản trở kết hôn, ly hôn (Khoản 10); Kết hôn giả tạo (Khoản 11); Yêu sách của cải trong kết hôn (khoản 12); Ly hôn giả tạo (khoản 15); Thành viên gia đình (Khoản 16); Người thân thích (Khoản 19); Nhu cầu thiết yếu (Khoản 20); Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (Khoản 21); Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (Khoản 22); Mang thai hộ vì mục đích thương mại (Khoản 23).
 
          - Bổ sung quy định trách nhiệm của Chính phủ trong quản lý Nhà nước về hôn nhân và gia đình (Điều 4, Khoản 2).
 
          - Sửa đổi, bổ sung quy định thống nhất và bao quát về các hành vi bị cấm trong hôn nhân và gia đình (Điều 5, khoản 2), cụ thể cấm các hành vi sau: (1) ly thân giả tạo; (2) cản trở kết hôn; (3) chung sống như vợ chống giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; (4) yêu sách của cải trong việc kết hôn; (5) cản trở ly hôn; (6) thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính; (7) bạo lực gia đình; (8) lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.
 
          - Sửa đổi, bổ sung quy định về áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình (Điều 7) trên cơ sở Điều 6 Luật  hôn nhân và gia đình năm 2000, với các nội dung quy định mới sau:
          + Tập quán được áp dụng trong trường hợp khi không có quy định của pháp luật và các bên không có thỏa thuận;
          + Tập quán được áp dụng khi đảm bảo các điều kiện: (1) nội dung của tập quán không trái với các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 2 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và không vi phạm điều cấm quy định tại khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; (2) tập quán được áp dụng là tập quan tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc.
 
2. Quy định về kết hôn (Chương II):
          Thứ nhất, về “Điều kiện kết hôn” (Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014) được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở Điều 9 và Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình, năm 2000, theo đó:
 
 
+  Nâng độ tuổi kết hôn của nam thành từ đủ 20 tuổi, của nữ thành từ đủ 18 tuổi, thay vì quy định “nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên” như khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
          + Bổ sung quy định điều kiện kết hôn là “Không bị mất năng lực hành vi dân sự”;
          + Bổ sung quy định “Nhà nước không thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa những người cùng giới tính” (thay cho quy định về cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính tại khoản 5 Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000).
 
          Thứ hai, về “Đăng ký kết hôn” (Điều 9): Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Theo đó, điều này được quy định ngắn ngọn lại và bỏ nội dung “Chính phủ quy định việc đăng ký kết hôn ở vùng sâu, vùng xa” tại khoản 2 Điều 11 Luật năm 2000. Như vậy, việc đăng ký kết hôn được thống nhất trên toàn quốc.
 
          Thứ ba, về “Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật” (Điều 10): Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Theo đó, bổ sung thêm 02 chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật gồm: (1) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; và (2) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, thay thế cho Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em tại điểm b khoản 3 Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
 
          Thứ tư, về “Xử lý việc kết hôn trái pháp luật” (Điều 11): Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở Điều 16 “Hủy kết hôn trái pháp luật” của Luật năm 2000; theo đó, quy định chi tiết và rõ ràng hơn Luật năm 2000. Đồng thời bổ sung một khoản giao nhiệm vụ cho “ Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ tư pháp hướng dẫn Điều này”.
 
          Thứ năm, bổ sung 01 Điều luật mới quy định về “Xử lý việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền” (Điều 13); theo đó, quy định như sau:
          “Trong trường hợp việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền thì khi có yêu cầu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật về hộ tịch và yêu cầu hai bên thực hiện lại việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ ngày đăng ký kết hôn trước”.
 
3. Quy định về giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn.
          Tại các Điều 14, 15, 16 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bổ sung các quy định về giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn với những nội dung cơ bản sau:
          - Việc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng (quan hệ hôn nhân). Trong trường hợp sau đó họ thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn (Điều 14).
          - Quy định nguyên tắc giải quyết quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, được giải quyết theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con (Điều 15).
          - Quy định về quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn (Điều 16); theo đó, quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận của các bên. Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Tuy nhiên, do đặc thù của quan hệ sống chung như vợ chồng là các bên tuy không có hôn nhân, nhưng trên thực tế họ đã gắn bó, cùng lo toan, chia sẻ, đóng góp cho cuộc sống chung, nên Luật đã có quy định mang tính nhân văn, công bằng để bảo bệ quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; người thực hiện công việc nội trợ và các công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được xem như lao động có thu nhập.
          Quy định “người thực hiện công việc nội trợ và các công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được xem như lao động có thu nhập” nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho người không tham gia vào các hoạt động tạo ra thu nhập mà dành công sức của mình cho công việc nội trợ, chăm lo cho cuộc sống của các thành viên sống chung. Điều này có ý nghĩa rất lớn, nhất là trong trường hợp nam, nữ sống chung thực hiện chế độ tách riêng tài sản (tài sản do bên nào làm ra thuộc quyền sở hữu riêng của bên đó) thì người làm công việc nội trợ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán cho mình một phần giá trị tài sản trên cơ sở tính toán công sức đóng góp của mình. Nếu không thỏa thuận được thì họ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
 
          4. Quy định đại điện cho nhau giữa vợ và chồng:
          Mục 2 Chương III Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, từ Điều 24 đến Điều 27 quy định về “Đại diện giữa vợ và chồng” trên cơ sở kế thừa và sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 24 và Điều 25 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; theo đó có những nội dung mới sau:
          - Để phù hợp với quy định của Luật về việc “vợ chồng có quyền thỏa thuận lựa chọn chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận” (Điều 28), tại khoản 1 Điều 24 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Việc đại diện giữa vợ và chồng trong xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch được xác định theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan;
          - Để phù hợp với đặc thù của quan hệ kinh doanh, Luật đã bổ sung quy định trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung thì vợ, chồng trực tiếp tham gia quan hệ kinh doanh là người đại diện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh đó, trừ trường hợp trước khi tham gia quan hệ kinh doanh vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc Luật hôn nhân và gia đình và các luật liên quan có quy định khác (Khoản 1 Điều 25);
          - Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, chồng và gia đình; quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba; sự an toàn trong giao dịch khi xác lập, thực hiện các giao dịch đối với tài sản chung của vợ chồng mà theo quy định pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng nhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản chung chỉ ghi tên vợ hoặc chồng, Luật đã bổ sung quy định về việc đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp này. Theo đó, việc đại diện giữa vợ và chồng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản chung có giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên vợ hoặc chồng được thực hiện theo quy định về căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng (Điều 24), đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh (Điều 25) của Luật hôn nhân và gia đình. Trong trường hợp vợ hoặc chồng có tên trên các giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật hôn nhân và gia đình thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp theo quy định của Luật mà người thứ ba ngay tình theo quy định của Bộ luật dân sự được bảo vệ quyền lợi (khoản 2 Điều 26);
          - Để bao quát hơn các trường hợp vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện; bảo đảm sự ổn định, an toàn trong giao dịch; quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba, tại Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 bên cạnh quy định về việc vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật hôn nhân và gia đình, cũng đã mở rộng hơn các trường hợp vợ chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với các giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện giữa vợ và chồng quy định tại các điều 24, 25, 26 Luật hôn nhân và gia đình, đối với các nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản quy định tại Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
 
          5. Quy định về chế độ tài sản của vợ, chồng:
          Mục 3 Chương III Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, từ Điều 28 đến Điều 49 đã sửa đổi, bổ sung các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng với các nội dung sau:
- Bổ sung 01 Điều luật mới quy định về “Áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng”, theo đó khẳng định quyền của vợ chồng trong việc lựa chọn chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận (Điều 28).
- Bổ sung 01 Điều luật mới quy định các nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng (Điều 29); bao gồm 03 nguyên tắc sau:
+ Vợ chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập (Khoản 1 Điều 29).
+ Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình (Khoản 2 Điều 29). Nguyên tắc này thể hiện rõ tinh thần của pháp luật khi thừa nhận chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận là phải bảo đảm lợi ích chung của gia đình.
+ Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường (Khoản 3 Điều 29). Nguyên tắc này xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền lợi của vợ, chồng, gia đình hoặc người thứ ba ngay tình. Khi một bên vợ hoặc chồng vi phạm quy định của chế độ tài sản mà gây thiệt hại cho bên kia (dùng tài sản chung để tặng cho người khác, dùng tài sản chung để đánh bạc…) hoặc gây thiệt hại cho người thứ ba ngay tình (giao dịch với người thứ ba, người này có thể không biết về tình trạng hôn nhân của người ký kết với mình do không quen biết, do không được thông báo…), thì người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường.
 
- Bổ sung 01 Điều luật mới quy định “Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình” (Điều 30), với nội dung sau:
+ Quy định về quyền, nghĩa vụ của vợ chồng trong việc thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Quy định này nhằm trao cho mỗi bên vợ, chồng khả năng tự mình thực hiện các giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Vợ, chồng không thực hiện giao dịch phải chịu trách nhiệm liên đới về nghĩa vụ phát sinh từ những giao dịch này.
+ Quy định về nghĩa vụ của vợ, chồng phải đóng góp tài sản riêng vào việc đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình. Đây là quy định rất quan trọng nhằm bảo đảm lợi ích chung của gia đình. Theo đó, dù vợ chồng thỏa thuận lựa chọn chế độ tài sản chung hoặc chế độ tách riêng tài sản vợ, chồng thì vẫn phải có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng của mình để đáp ứng các nhu cầu chung của gia đình theo khả năng kinh tế của mỗi bên.
 
- Bổ sung 01 Điều luật mới quy định “Giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng” (Điều 31); theo đó “Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng phải có sự thỏa thuận của vợ chồng. Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ chồng”. Đây cũng là quy định nhằm bảo vệ lợi ích chung của gia đình. Đối với gia đình, chỗ ở luôn là vấn đề rất quan trọng và đòi hỏi một sự ổn định.
 
          - Bổ sung 01 Điều luật mới quy định “Giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu quyền sử dụng” với các nội dung sau:
          + Quy định “Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó”;
          + Quy định “Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng đang chiếm hữu động sản mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch  liên quan đến tài sản đó trong trường hợp Bộ luật dân sự có quy định về việc bảo vệ người thứ ba ngày tình”.
          Các quy định này không chỉ bảo vệ lợi ích chính đáng của người thứ ba, mà còn tạo thuận lợi cho vợ, chồng có thể thực hiện giao dịch một cách dễ dàng mà không phải đưa ra các tài liệu chứng minh về quyền đối với tài sản được sử dụng.
 
          - Sửa đổi, bổ sung một số quy định (từ Điều 33 đến Điều 46) về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định với các nội dung sau:
          + Sửa đổi, bổ sung một số căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng cho rõ ràng, tạo điều kiện cho Tòa án giải quyết tranh chấp chính xác hơn về vấn đề này. Cụ thể, những tài sản mà vợ, chồng có được từ tài sản riêng của mình (ví dụ: hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung) vẫn thuộc sở hữu riêng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Đối với quyền sử dụng đất, trong thời kỳ hôn nhân mà vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng thì đó vẫn là tài sản riêng của vợ hoặc chồng.
          + Bổ sung 01 điều luật mới (Điều 34) quy định về “ Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung”; theo đó: Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chống có thỏa thuận khác; Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
          + Sửa đổi, bổ sung quy định về “Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung” (Điều 35) trên cơ sở kế thừa Điều 28 Luật hôn nhân và đình năm 2000; theo đó, bỏ quy định “Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung” tại khoản 1 Điều 28 của Luật năm 2000 vì đã quy định ở khoản 1 Điều 29 Luật năm 2014 “Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng”; đồng thời, quy định cụ thể 03 trường hợp mà việc định đoạt tài sản chung phải có thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng, đó là: (1) bất động sản; (2) động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu; (3) tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.
          + Bổ sung 01 Điều mới (Điều 36) quy định về “Tài sản chung được đưa vào kinh doanh”; theo đó xác định rõ: “Trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó. Thỏa thuận này phải lập thành văn bản”.
          + Bổ sung 02 Điều luật mới quy định về “Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng” (Điều 37) và quy định về “Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng” (Điều 45). Các quy định mới này nhằm tạo thuận lợi cho việc giải quyết tranh chấp trong thực tiễn.
          + Sửa đổi, bổ sung các quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (Từ Điều 38 đến Điều 42); theo hướng, quy định cụ thể hơn về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, nhất là về hậu quả pháp lý của nó; theo đó sửa đổi, bổ sung các quy định về quyền yêu cầu, cách thức chia tài sản chung (Điều 38); thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (Điều 39 – điều mới); hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (Điều 40); chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (Điều 41 – điều mới); các trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu (Điều 42 – điều mới).
          + Bổ sung 01 điều luật mới (Điều 46) quy định về “ Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung” để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Tính đến đặc thù của quan hệ vợ chồng, Luật quy định việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng (không nhất thiết phải bằng văn bản). Đối với những tài sản được nhập vào tài sản chung mà pháp luật quy định giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó. Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã được nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
 
          - Bổ sung các điều luật mới (từ Điều 47 đến Điều 50) quy định về chế định tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận với các nội dung sau:
          + Quy định về “Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng” (Điều 47); theo đó: Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.
          + Quy định nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng (Điều 48), bao gồm: tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng; quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình; điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản; nội dung khác có liên quan.
          + Quy định rõ thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng vẫn có thể được thay đổi sau khi kết hôn (Điều 49).
          + Quy định các trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu (Điều 50).
 
          6. Chế định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (từ Điều 94 đến Điều 100), với các nội dung sau đây:
          Thứ nhất, quy định việc “Xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” (Điều 94); theo đó: “Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra”.
          Thứ hai, quy định “Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” (Điều 95); theo quy định này:
          - Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản.
          - Cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ phải đáp ứng các điều kiện sau: (i) Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; (ii) Vợ chồng đang không có con chung; (iii) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.
          - Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau: (i) là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ; (ii) Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần; (iii) Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ; (iv) Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng; (v) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.
          - Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không được trái với quy định của pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
          Để đảm bảo tính khả thi và quy định cụ thể, chặt chẽ hơn về vấn đề này, Luật quy định giao cho Chính phủ quy định chi tiết các điều kiện này.
         
          Thứ ba, quy định “Quyền, nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” (Điều 97).
          Thứ tư, quy định “Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” (Điều 98).
          Thứ năm, quy định về giải quyết tranh chấp liên quan đến việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. (Điều 99).
 
          7. Các quy định về ly hôn (từ Điều 51 đến Điều 64):
          - Bổ sung quy định “Cha mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng bị tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ” (khoản 2 Điều 51). Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định nêu trên thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia (khoản 3 Điều 56).
          - Bổ sung quy định mới về thời điểm chấm dứt hôn nhân và gửi bản án, quyết định ly hôn (Điều 57);
          - Bổ sung quy định mới về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ và con sau khi ly hôn (Điều 58);
          - Sửa đổi quy định về “Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ, chồng khi ly hôn” (Điều 59);
          - Bổ sung 01 điều mới quy định về “Giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn” (Điều 60).
 
          8. Một số quy định mới về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài:
          - Bổ sung điều mới quy định về “Hợp pháp hóa lãnh sự giấy tờ, tài liệu về hôn nhân và gia đình” (Điều 124);
          - Bổ sung điều mới quy định về “Công nhận, ghi chú bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về hôn nhân và gia đình” (Điều 125);
          - Bổ sung điều mới quy định về “Xác định cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài” (Điều 128);
          - Bổ sung điều mới quy định về “Nghĩa vụ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài” (Điều 129).

Tác giả: Phòng 5

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây