Rút kinh nghiệm vụ án dân sự sơ thẩm bị cấp phúc thẩm hủy án và đình chỉ giải quyết.

Thứ tư - 23/10/2013 05:25 1.041 0
Nội dung vụ án: Cụ Trần Văn Đĩnh (chết năm 1998, không để lại di chúc) vợ là cụ Ngô Thị Loan (chết năm 1985, không để lại di chúc ) sinh được tám người con là: Trần Thị Huệ (chết năm 2006 có chồng là Cù Văn Quý và 04 người con: Cù Thị Tươi, Cù Thị Thơm, Cù Thị Ngát, Cù Văn Tuyến), Trần Văn Đích, Trần Văn Vinh, Trần Thị Tuệ, Trần Văn Quang, Trần Văn Việt, Trần Văn Thái, Trần Thị Phương.
Nguyên đơn là bà Trần Thị Phương khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của cụ Đĩnh, cụ Loan để lại gồm:
          - Thửa đất số 11 tờ bản đồ số 10 diện tích 1390m2, trong đó đất ở 360m2, đất vườn 707m2, đất ao 323m2. Năm 2003 nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất ao 323m2 nhưng không được bồi thường. Năm 2010 nhà nước tiếp tục thu hồi diện tích 205m2 + 58m2 (đất UB), nên diện tích còn lại là 817m2, tuy nhiên kiểm tra thực địa là 843m2. Tài sản, vật kiến trúc trên đất gồm: nhà cấp 4, bể gạch, lán lợp ngói, nhà vệ sinh đã cũ, hỏng, xuống cấp. Sau khi cụ Đĩnh chết ông Việt, bà Phương cùng quản lý, sử dụng toàn bộ tài sản này cho đến nay.
          - Tiền nhà nước đền bù khi thu hồi đất năm 2010 là 243.171.000đ (cả gốc + lãi), trừ đi khoản tiền bê tông của ông Quang là 5.166.000đ. Còn lại 238.005.000đ. Ngày 11/5/2012 ông Việt đã nhận tiền đền bù (cả gốc + lãi) là 118.560.000đ.
          - 01 chiếc thuyền vận tải đường sông, bán được 27.000.000đ, sau khi trừ các khoản nghĩa vụ, còn lại 7.000.000đ. Hiện ông Việt đang quản lý khoản tiền này.
          Về nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đất: Hai cụ Đĩnh, Loan tạo lập thửa đất từ trước năm 1955, sử dụng ổn định, liên tục. Sau khi cụ Đĩnh chết (năm 1998), ông Việt, bà Phương quản lý trông coi, sử dụng đất và tài sản trên đất. Tháng 8/1999, UBND huyện Lý Nhân cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ hộ là ông Trần Văn Việt. Năm 2000, ông Việt kết hôn với bà Nguyễn Thị Hiên, bà Phương không có chồng con nên vẫn ăn ở chung với vợ chồng ông Việt. Năm 2003 nhà nước thu hồi 323m2 đất ao và đến năm 2006 UBND huyện Lý Nhân cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ hộ là vợ chồng ông Việt, bà Hiên. Do bà Phương không có chồng con, lại hay ốm đau, bệnh tật bị vợ chồng ông Việt hắt hủi dẫn đến mâu thuẫn nên năm 2008 bà Phương ăn riêng nhưng vẫn ở chung nhà.
          Nay bà Phương khởi kiện yêu cầu ông Việt chia cho bà 1/2 diện tích đất tại thửa 11, tờ bản đồ số 10, yêu cầu được hưởng 1/2 giá trị tài sản có nguồn gốc thừa kế. Trường hợp yêu cầu nêu trên của bà Phương không được chấp nhận, đề nghị chia đều cho 8 kỷ phần thừa kế về quyền sử dụng đất, giá trị tài sản có nguồn gốc bố mẹ để lại.
          Quan điểm của bị đơn ông Trần Văn Việt: Bố mẹ ông đông con, trong đó có 6 người con đã có chỗ ở riêng ổn định. Bản thân ông ở cùng và chăm sóc bố mẹ lúc già yếu, ốm đau. Trước khi chết, năm 1995 cụ Đĩnh đã tuyên bố cho ông Việt toàn bộ nhà đất, tài sản, mọi anh em trong gia đình đều biết điều đó. Cụ Đĩnh đã chủ động đến UBND thị trấn Vĩnh Trụ, huyện Lý Nhân để kê khai, làm thủ tục sang tên toàn bộ thửa đất cho ông Việt. Năm 1999, UBND huyện Lý Nhân đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất mang tên ông. Từ đó đến nay ông là người quản lý hợp pháp toàn bộ nhà đất của cụ Đĩnh để lại nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phương.
          Các đồng thừa kế là con của cụ Đĩnh, Loan đều xác định: họ không có văn bản thỏa thuận hay thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia. Riêng ông Việt, ông Quang, bà Tuệ còn khẳng định các tài sản đó đã được cụ Đĩnh, cụ Loan cho ông Việt lúc còn sống và đến năm 1995 cụ Đĩnh đã kê khai đề nghị cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Việt nên hiện nay các tài sản đó là của ông Việt, không chấp nhận việc khởi kiện chia tài sản chung của bà Phương. Ông Đích, ông Vinh, ông Thái đề nghị xác định rõ phần tài sản thừa kế của từng người, ông Việt, bà Phương được hưởng bao nhiêu, còn lại của các đồng thừa kế khác đề nghị sử dụng chung nhưng giao cho ông Đích chịu trách nhiệm quản lý chung. Ông Quý, chị Tươi, chị Thơm, chị Ngát, anh Tuyến (là những người thừa kế quyền lợi của bà Huệ) đề nghị: phần của bà Huệ cho bà Phương được quản lý, sở hữu, bà Phương không phải thanh toán giá trị phần của bà Huệ.
          Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2013/DS-ST ngày 01/8/2013 đã tuyên xử:
          I/ Chia bà Trần Thị Phương được sử dụng 107m2 đất, vị trí Bắc thửa đất tại thửa số 11, tờ bản đồ số 10, xóm 9, thị trấn Vĩnh Trụ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (có các mốc giới kèm theo) và toàn bộ cây, hoa màu trên đất, đất vượt lập, trị giá 121.600.000đ.
          Chia ông Trần Văn Việt được sử dụng 100m2 đất, vị trí Nam thửa đất tại thửa đất số 11, tờ bản đồ số 10, xóm 9, thị trấn Vĩnh Trụ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (có các mốc giới kèm theo) và toàn bộ cây, hoa màu trên đất, đất vượt lập, trị giá 116.000.000đ.
          Tạm giao cho ông Trần Văn Đích, Trần Văn Vinh, Trần Văn Quang, Trần Văn Thái, bà Trần Thị Tuệ và ông Cù Văn Quý, chị Cù Thị Tươi, Cù Thị Thơm, Cù Thị Ngát, anh Cù Văn Tuyến (phần của bà Huệ) cùng quản lý chung phần đất có diện tích là 636m2, toàn bộ vật kiến trúc, đất vượt lập, cây, hoa màu trên đất, trị giá 821.849.000đ. Ông Đích có trách nhiệm chính trong việc quản lý tài sản và thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.
          II/Chia giá trị tài sản chung:
          1. Chia bà Trần Thị Phương sở hữu giá trị tài sản chung có nguồn gốc thừa kế 135.307.000đ, tiền trông coi di sản là 60.000.000đ, cộng: 185.307.000đ. Đối trừ với khối tài sản bà Phương được chia hiện vật là 121.600.000đ, chênh lệch giá trị tài sản là 63.707.000đ, bà Phương được nhận số tiền này tại Ban giải phóng mặt bằng là 63.707.000đ trước khi bản án có hiệu lực pháp luật.
        2. Chia ông Trần Văn Việt sở hữu, sử dụng giá trị tài sản có nguồn gốc thừa kế là 135.307.000đ, tiền công trông coi di sản là: 60.000.000đ và tiền tài sản, vật kiến trúc, đất vượt lập, cây, hoa màu trên đất do vợ chồng ông Việt kiến thiết là: 33.179.000đ, cộng: 228.483.000đ. Đối trừ với khối tài sản ông Việt được chia hiện vật là: 116.000.000đ + khoản tiền đền bù đã nhận là 118.560.000đ + 7.000.000đ tiền bán thuyền do ông Việt đang quản lý, cộng là: 241.560.000đ, đối trừ chênh lệch giá trị tài sản ông Việt nhận thừa là 13.077.000đ. Ông Việt phải trả số tiền này cho 6 kỳ phần thừa kế còn lại là ông Đích, ông Vinh, ông Quang, ông Thái, bà Tuệ và ông Quý, chị Thơm, chị Tươi, chị Ngát, anh Tuyến để quản lý, sử dụng chung.
          3. Chia lại ông Trần Văn Quang tiền tấm bê tông được Nhà nước đền bù là 5.166.000đ. Ông Quang được nhận số tiền này tại Ban giải phóng mặt bằng.
          4. Giap ông Trần Văn Đích nhận tiền đền bù khi Nhà nước thu hồi đất tại Ban giải phóng mặt bằng là 55.738.000đ và khoản tiền chênh lệch giá trị tài sản do ông Việt phải trả của 6 kỷ phần thừa kế là 13.077.000đ, quản lý để sử dụng chung, sửa chữa vật kiến trúc trên đất tạm giao nhưng chưa chia nêu trên.
          Ngoài ra cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí.
          Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn kháng cáo, ông Trần Văn Việt có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số ngày, đề nghị xét xử lại.
          Ngày 28/8/2013, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đã kháng nghị phúc thẩm toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, đề nghị TAND tỉnh Hà Nam hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
          Quá trình kiểm sát việc giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam nhận thấy:
Ngày 30/12/2012 bà Trần Thị Phương có đơn khởi kiện đến Tòa án huyện Lý Nhân yêu cầu chia tài sản chung đối với tài sản của cụ Đĩnh, cụ Loan để lại. Tính đến thời điểm bà Phương khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế đã hết vì quá 10 năm kể từ khi cụ Đĩnh, cụ Loan chết; nên các đương sự là đồng thừa kế của cụ Đĩnh, cụ Loan không còn quyền khởi kiện chia di sản thừa kế.
          Bà Phương khởi kiện chia tài sản chung nhưng tất cả các đồng thừa kế của cụ Đĩnh, cụ Loan không có văn bản thỏa thuận hoặc thừa nhận thửa đất số 11 tờ bản đồ số 10 diện tích 1.390m2 và tài sản gắn liền với đất + 01 chiếc thuyền là di sản do cụ Đĩnh, cụ Loan để lại và chưa chia. Phía các đồng thừa kế là ông Việt, ông Quang, bà Tuệ còn xác định: các tài sản này đã được cụ Đĩnh, cụ Loan cho ông Việt khi hai cụ còn sống nên nay là tài sản riêng của ông Việt đã được UBND huyện Lý Nhân cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Việt, không nhất trí đây là tài sản chung.
          Theo quy định tại mục 2.4 phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình thì: “a. Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:
          a.1. …
          a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thỏa thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thỏa thuận.
          a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thỏa thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung”.
          Như vậy, căn cứ hướng dẫn nêu trên thì các tài sản mà bà Phương yêu cầu chia không đủ điều kiện chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Việc Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân thụ lý, giải quyết vụ án khi chưa đủ điều kiện khởi kiện là vi phạm điểm d, khoản 1 Điều 168, điểm i khoản 1 Điều 192 BLTTDS và mục 2.4 phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 nêu trên. Lẽ ra trong trường hợp này, Tòa án cần yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ bằng văn bản xác nhận tài sản chung chưa chia để làm căn cứ chia tài sản chung, nếu đương sự không cung cấp được thì áp dụng các điểm, khoản, điều luật nêu trên để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự mới đảm bảo quy định pháp luật.
Với vi phạm nghiêm trọng của Tòa án cấp sơ thẩm về thủ tục tố tụng, việc chứng minh, thu thập chứng cứ không đầy đủ như đã phân tích ở trên, ngày 30/9/2013, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam đã xét xử phúc thẩm vụ án, tuyên hủy bản án dân sự sơ thẩm số 02/2013/DS-ST ngày 01/8/2013 của TAND huyện Lý Nhân và đình chỉ giải quyết vụ án.
          Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn có một số vi phạm khác như: bỏ lọt người tham gia tố tụng quy định tại khoản 4 Điều 56 BLTTDS, vi phạm việc thực hiện chế độ hai cấp xét xử và bảo đảm hiệu lực pháp luật của bản án quy định tại các Điều 17, 19 BLTTDS. Đây là vụ án có nhiều vi phạm, Phòng 5 – VKSND tỉnh Hà Nam đã tổng hợp ra Thông báo số 1347/TB-VKS-P5 ngày 18/10/2013 để các VKSND huyện, thành phố nghiên cứu, rút kinh nghiệm chung nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự./.

Tác giả: Đinh Thị Thủy

 Từ khóa: nội dung, di chúc, có chồng

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây